
Không dựng bối cảnh giả, cũng không quay bằng phông xanh, một bộ phim dành hẳn 4 tháng để khảo sát hiện trường, lên bản vẽ và mất tới tận 8 tháng để khởi công xây dựng bối cảnh chính theo phong cách kiến trúc Giang Nam thời Minh rộng tới 2,5 hecta. Chỉ riêng thông tin hậu trường này thôi đã khiến mình nhất định phải xem Lan Hương như cố, bởi sự đầu tư hết sức công phu như vậy phần nào nói lên tâm huyết của đoàn làm phim. Và quả thực, trải qua 47 tập phim trong suốt một tháng trời, mình được quay trở lại sống trong cảm giác “dòng chảy” của một bộ phim hay và chìm đắm trong câu chuyện của các nhân vật.
Là một bộ phim cấp S+ được đầu tư quy mô lớn, ngân sách cao, quy tụ dàn diễn viên chính có sức hút hàng đầu, Lan Hương như cố là tác phẩm do nữ đạo diễn Hoàng Dĩnh Tương cầm trịch, được chuyển thể từ tiểu thuyết mạng nhưng được cải biên theo hướng sâu sắc và mang đậm triết lý nhân sinh hơn. Rất lâu rồi mình mới thấy có một bộ phim cổ trang công chiếu mà thu hút được đông đảo sự quan tâm của khán giả toàn cầu như thế, từ châu Á cho tới cả phương Tây đều dõi theo câu chuyện của Lan Hương. Bởi lẽ Lan Hương như cố không chỉ là một bộ phim, mà đó còn là một tác phẩm nghệ thuật vị nhân sinh.

Hồng trần gió bụi hồng nhan dập vùi
Bộ phim xoay quanh câu chuyện của nữ chính Thẩm Gia Lan, vốn là đích nữ của nhà họ Thẩm mà ông ngoại cô là Thẩm đại học sĩ, một vị đại thần cốt cán trong triều. Lớn lên ở nơi khuê tú trong một gia đình đề cao học thức, từ nhỏ Gia Lan đã tinh thông cầm, kỳ, thi, họa và làu thông kinh sử – một điều cực kỳ hiếm hoi thời phong kiến vì theo quan niệm của Nho giáo, học hành không phải là chuyện dành cho nữ tử. Thẩm Gia Lan (diễn viên Đàm Tùng Vận thủ vai) vốn được định hôn với Lâm Cẩm Kỳ (diễn viên Lưu Học Nghĩa thủ vai), trưởng nam của nhà họ Lâm, cũng là một dòng dõi danh môn quyền thế và hai nhà đã có giao tình nhiều năm.

Không cần kể lể dông dài, ngay từ tập 1 phim dựng lên khung cảnh một Thẩm gia quyền thế, trâm anh thế phiệt và thuận hòa ra sao thì chẳng mấy chốc, một cơn gió bụi thời cuộc cuốn qua đã làm cho khung cảnh tuyệt mỹ ấy vụn vỡ đến mức bi ai thống khổ. Án cũ bị lật lại, Thẩm gia giữ trọn khí tiết nên bị xử tội chết cả gia đình, còn Lâm gia cũng vội vã từ quan về thành Kim Lăng ở ẩn và từ bỏ hôn ước giữa hai nhà. Từ một tiểu thư kim chi ngọc diệp, Thẩm Gia Lan bị cuộc hồng trần xoay vần trở thành Hứa Lan Hương, con gái của hai vợ chồng gia nô làm việc tại Lâm phủ. Ngày cô đau khổ vì mất người thân cũng là ngày mà Lâm Cẩm Kỳ cưới người khác về làm vợ.

Lan Hương như cố là khúc phong ba về cuộc đời của nhân vật Thẩm Gia Lan trong thân phận Hứa Lan Hương, đi từ một nô tỳ hạng ba cho tới ngày cô trở thành Đại thiếu phu nhân của Lâm Cẩm Kỳ, cùng cả Lâm gia trải qua biết bao biến cố qua những mùa hoa thay lá trong một Lâm phủ vàng son gấm vóc nhưng chìm nổi bao phận người. Cái hay của phim nằm ở chỗ bên cạnh tuyến truyện của các nhân vật chính, từng nhân vật phụ đều được làm nổi bật lên thân phận, khát vọng và ước mơ của họ với góc nhìn đầy tính nhân văn. Phim được làm theo lối thủ công và chân thực tới nỗi từng khung cảnh đều đẹp như một tuyệt tác với chất liệu thật, ánh sáng thật và cảnh trí thật.
Thân phận của người phụ nữ thời phong kiến
Có thể nói Lan Hương như cố là một bộ phim đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp của Hoàng Dĩnh Tương, một nữ đạo diễn 9x còn rất trẻ nhưng rất tài năng. Cô từng có bằng cử nhân kép hai ngành Kinh tế và văn học của Đại học Bắc Kinh, học thạc sĩ chuyên ngành đạo diễn ở Mỹ và từng làm việc tại Hollywood. Điểm nổi bật trong phong cách đạo diễn của cô là tập trung vào thế giới nội tâm của nhân vật nữ với sự cảm thông sâu sắc. Bên cạnh đó, cô cũng có tư duy mỹ học rất cao khi từng thước phim của cô đều gần như tranh thủy mặc, khiến khán giả không khỏi trầm trồ trước cảnh sắc trong phim.

Xuyên suốt bộ phim, một trong số những điều làm mình tâm đắc nhất là câu chuyện của các nhân vật nữ phụ trong phim, mà qua đó khán giả thời nay có thể phần nào hiểu thêm về những nỗi khổ niềm đau và sự trói buộc của lễ giáo đối với thân phận của người phụ nữ thời phong kiến. Theo quan niệm ngày trước, người phụ nữ phải đeo chiếc vòng kim cô của tư tưởng “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng mất theo con trai). Suốt cả cuộc đời, phụ nữ không có quyền tự quyết đối với số phận của mình mà phải chịu sự sắp đặt an bài của những người đàn ông trong nhà.

Triệu Tinh Đường xuất thân là ái nữ của Triệu gia, một gia đình thuộc dòng dõi đại thần trong triều. Cô là Đại thiếu phu nhân đầu tiên của Lâm Cẩm Kỳ, lấy chồng theo hôn ước mà hai gia đình sắp đặt. Nỗi khổ tâm của Triệu Tinh Đường nằm ở chỗ cô đã có ý trung nhân từ trước, nhưng phải nghe lời cha mẹ lấy một người mình không thương chỉ vì bốn chữ “môn đăng hộ đối”. Bản thân Triệu Tinh Đường là người có tài kinh doanh, thích kiếm tiền và với cô tài sản mới là thứ đáng tin cậy hơn con người. Nhưng khuôn khổ lễ giáo không cho phép phụ nữ được sở hữu tài sản riêng, mà tất cả tài sản cô kiếm được đều thuộc về nhà chồng.
Sau khi hòa ly (ly hôn) Lâm Cẩm Kỳ, Triệu Tinh Đường không có được tự do mà vẫn phải chịu sự sắp đặt của gia đình để tiếp tục lấy chồng khác và trở thành Đới phu nhân. Con gái của gia đình quyền thế từ khi sinh ra đã là những con cờ được định sẵn nước đi để liên hôn giữa các gia tộc lớn, không có cái gọi là quyền tự do lựa chọn. Đến tận lúc chết, tâm nguyện của Triệu Tinh Đường cũng hết sức đơn thuần:
Kiếp này, Triệu tiểu thư, Đới phu nhân, ta chịu đủ rồi. Kiếp sau, ta chính là ta, là bản thân ta. Ta biết chữ, ta đọc sách rồi, nhưng mà ta vẫn không hiểu quy củ của thói đời này. Đến khi nào thì mới có một xã hội mà nữ tử được như nam nử, đến trường học hành, thi cử đỗ đạt, làm quan, buôn bán, kiếm tiền? Nữ tử có thể tự chọn phu quân, không cần nghe lời cha mẹ hay bà mối.

Khác với Triệu Tinh Đường, Đỗ Thúy Tước xuất thân từ tầng lớp nhà binh, từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, phải nương tựa người anh trai là binh sĩ và anh trai cô cũng là ân nhân cứu mạng của Lâm Cẩm Kỳ trên chiến trường. Nhờ ơn nghĩa này, hai anh em cô mới được nhà họ Lâm đối xử như người nhà và cho ở hẳn một biệt viện trong phủ với kẻ hầu người hạ không khác gì chủ tử. Đỗ Thúy Tước vốn là một cô gái xinh đẹp tài hoa, vừa có học thức vừa tinh thông y thuật và có hoài bão lớn. Tuy nhiên vì xuất thân thấp kém, cô không thể hôn phối được với những công tử thế gia, mà chỉ có thể kết hôn với người cùng tầng lớp.
“Tài cao, phận thấp, chí khí uất”, Đỗ Thúy Tước không chấp nhận thói đời đó mà không ngừng bày mưu tính chước để trở thành thiếp của Lâm Cẩm Kỳ và làm khuynh đảo cả Lâm phủ. Đến khi bị vạch trần bản chất, cô chẳng chút sợ sệt mà nghênh ngang coi khinh lẽ đời bất công:
Thế gian này còn có con đường đúng đắn nào dành cho ta không? Tài năng học thức của ta không thua kém nam nhi, nhưng ta có thể tham gia thi đỗ trạng nguyên không? Hay có thể tòng quân đánh trận được phong tước hầu? Ngoài việc gả chồng, thế gian này còn để lại con đường nào cho một nữ tử như ta?

Thông qua câu chuyện của những nhân vật nữ trong phim – từ các ác nữ phản diện cho tới thiện nữ chính diện – Lan Hương như cố khiến khán giả không khỏi day dứt trước thân phận của người phụ nữ thời phong kiến. Nói theo lời của mẹ Lâm Cẩm Kỳ trước khi mất thì “Thế giới này thật khắc nghiệt với phụ nữ”. Sinh ra là nữ nhi, nữ tử không được học hành, ra đường không được lộ mặt, không được kiếm tiền làm ăn, còn hôn nhân thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Nữ tử mà quá tuổi cập kê chưa lấy chồng, phải bị mang tiếng là phẩm hạnh có vấn đề nên mới không ai thèm lấy. Nữ tử mà gần gũi nam nhân khi chưa hôn phối, dù chưa ăn cơm trước kẻng vẫn bị người đời đánh giá nhân phẩm và có khi bị chính gia đình ép buộc phải tự vẫn để chứng minh mình trong sạch.
Thậm chí khi chồng mất, nữ tử cũng không được tái giá nếu nhà chồng không cho phép, phải ở vậy nuôi con, làm nô bộc cả đời cho nhà chồng. Nếu nữ tử không có con mà chồng chết, một số gia đình còn bắt họ tuẫn tiết chết theo chồng. Nam nhân bị cướp, thoát nạn mọi người đều mừng. Nhưng nữ nhân bị cướp, thoát nạn trở về người đời cho là đã thất tiết, không còn trinh bạch. Nam nhân ra ngoài kiếm được tiền, về nhà ai cũng khen ngợi. Nữ nhân ra ngoài kiếm tiền, người đời nói ra nói vào, cho là không biết giữ thân giữ phận. Nếu như nam nhân nhìn nhận như vậy cũng đã đành, ngay cả nữ tử thời đó cũng tự nghĩ như vậy và ràng buộc mình trong lễ giáo phong kiến.

Mượn câu chữ viết thay nỗi lòng của phụ nữ
Trong phim, có một thiết lập rất nhân văn tinh tế mà mình đánh giá rất cao ở biên kịch và đạo diễn, đó là cho nhân vật Lan Hương bén duyên với kịch nghệ qua Lục tiên sinh và đoàn kịch Phù Dung Tú, từ đó cô nảy sinh đam mê viết kịch bản cho đoàn kịch dưới bút danh Thẩm Như Cố (nghĩa là tưởng nhớ Thẩm gia, cũng là gia đình của Thẩm Gia Lan ngày trước). Dưới thời phong kiến, kịch nghệ là một hình thức giải trí rất được ưa chuộng, từ nhà quyền quý tới người bình dân, ai ai cũng thích xem kịch, thậm chí các gia đình hào môn còn thuê đoàn kịch tới hát riêng ở nhà họ.
Lan Hương hiểu được bản chất này của thời cuộc nên mới mượn kịch nghệ làm sân khấu, chấp bút viết nên những câu chuyện của những người phụ nữ mà trước giờ chưa ai từng viết, bởi vì kịch bản hát kịch đa phần là nam nhân viết và toàn xoay quanh câu chuyện của đàn ông. Vở kịch đầu tiên Lan Hương viết là “Vũ Tiên Ký” kể về một cô gái tên Đàm Nương cứu một con chim ưng bị mắc lưới thợ săn, rồi được chim ưng tặng một chiếc lông vũ thần. Khi gặp nạn, Đàm Nương đốt lông vũ có thể hóa thành chim, nhưng chỉ được ba lần, lần thứ tư sẽ vĩnh viễn thành chim, không thể trở lại thành người.

Cuộc đời của Đàm Nương qua ba lần khổ ải chính là hình mẫu được Lan Hương lấy từ những người phụ nữ xung quanh mình. Suốt cả đời, Đàm Nương toàn sống vì người khác và hy sinh cho họ. Đến cuối cùng, cô mới lựa chọn vĩnh viễn hóa thành chim để sống phần đời còn lại trong tự do. Vở kịch trở thành tiếng nói cho số phận phụ nữ, được nhiều khán giả đồng cảm và truyền tụng khắp kinh thành. Xuyên suốt bộ phim, khi Lan Hương đã trở thành Đại thiếu phu nhân, cô vẫn luôn dành thời gian để viết kịch về nỗi vui buồn, hợp tan của phụ nữ trong chế độ phong kiến.
Điều thú vị nằm ở chỗ nhân vật chính của các vở kịch ấy đều có tên Đàm Nương, đều là nữ tử và làm được những điều không thua kém gì nam nhân, từ học hành đỗ đạt cho tới làm nữ tướng ở chốn sa trường. Dù Lan Hương viết nhiều vở kịch như thế nhưng đa phần cô đều viết thay cho tiếng nói của những người phụ nữ khác. Đến tận cuối đời khi đã hơn 80 tuổi, Lan Hương mới hoàn thành tác phẩm cuối cùng là “Thẩm Gia Ký”, ghi chép lại chân thực cuộc đời, công lao và nỗi oan khuất của gia tộc họ Thẩm. Tất cả đều hướng tới mục đích: để dân chúng truyền tụng, từ đó nỗi oan của gia tộc được ghi nhớ và một ngày nào đó sẽ được soi xét lại.
Lấy một ngọn đèn truyền cho các ngọn đèn khác, cuối cùng vạn đèn đều sáng. Một ngọn đèn nhỏ bé chỉ có thể chiếu sáng chừng một trượng, nhưng ta thắp một ngọn đèn, em thắp một ngọn đèn. Ngay khi ánh sáng của đom đóm tụ họp lại với nhau cũng có thể chiếu sáng cả một con phố dài, giúp người phụ nữ đi đường trong đêm tối nhìn rõ phương hướng.

Mãi đến 130 năm sau ngày Lan Hương mất, vụ án oan của Thẩm gia ngày nào mới được lật lại và minh oan. Lan Hương không còn sống để tận mắt chứng kiến cái kết ấy, nhưng những gì cô để lại cho hậu thế có sức lan tỏa sâu dài hơn thế nhiều. Thực sự đây là một thông điệp hết sức nhân văn và ý nghĩa mà mình cực kỳ tâm đắc ở Lan Hương như cố. Khi con người ta không có đủ sức mạnh và quyền lực để thay đổi thời cuộc, họ có thể mượn câu chữ để cất lên tiếng nói của mình. Câu chữ không luận tầng lớp xuất thân, giới tính hay địa vị cao thấp sang hèn. Chẳng phải vì thế mà “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ” của người xưa đó sao?
***
Lan Hương như cố có lẽ là bộ phim cổ trang hay nhất và ý nghĩa nhất mà mình được xem trong mấy năm gần đây, tới mức vừa xem mà cứ vừa sợ phim sẽ hết sớm. Và hiếm hoi lắm mới có một bộ phim xem xong lại khiến mình muốn xem đi xem lại nhiều lần nữa đến vậy, bởi từng câu chuyện, từng nhân vật đều là một nét điểm tô hoàn mỹ cho một bức tranh tuyệt đẹp về thế sự nhân sinh ở chốn đình viện thâm sâu. Diễn xuất của cả Đàm Tùng Vận và Lưu Học Nghĩa đều rất nổi bật bên cạnh dàn diễn viên phụ ai ai cũng có nét riêng. Và đặc biệt nhạc phim rất hay, 10 bản thì bản nào cũng hay và được viết riêng cho phim rất hợp tình hợp cảnh.


Thấy anh nhắc đến phim Lan Hương như cố mấy bài lận chắc là hay lắm đây, nên em đành phải xem^^
Xem xong hãy quay lại chia sẻ cảm nhận nhen em 😀