Những năm 2006-2009, VTV3 từng phát sóng một gameshow thú vị vào mỗi 11 giờ trưa thứ Bảy hàng tuần có tên gọi “Tam Sao Thất Bản” do 2 MC Quyền Linh và Thanh Thảo dẫn dắt. Format chương trình sẽ cho 2 đội chơi tham gia thi tài qua 4 vòng với những trải nghiệm mang đậm tính chất “tam sao thất bản” trong thành ngữ dân gian này.

Có 2 vòng chơi mình vẫn còn ấn tượng:

  • Vòng 1: Nhìn nhanh nói khẽ. Hai đội sẽ chơi cùng lúc, thành viên đầu tiên mỗi đội sẽ được cho xem một bức tranh với nhiều chi tiết, 3 thành viên còn lại đứng trong phòng kín không nhìn thấy tranh. Người đầu tiên sẽ nhìn bức tranh và nói thầm qua một lỗ nhỏ cho người thứ hai, lần lượt tới người cuối cùng sẽ chạy ra ghi các chi tiết mình nghe được lên bảng.
  • Vòng 2: Nghe thấu hát tài. Hai đội luân phiên thi hát, thành viên đầu tiên sẽ nhận tấm bảng có ghi 2 câu hát, 3 thành viên còn lại đứng trong phòng kín và được đeo tai phone mở nhạc thật lớn. Vòng này phụ thuộc vào khả năng đọc khẩu hình của người chơi và người cuối cùng sẽ hát lại câu hát đã nhận được.

Điểm thú vị từ chương trình làm khán giả cười lăn cười bò là kết quả từ người cuối cùng bao giờ cũng trớt quớt với thông tin người đầu tiên nhận được. Như vòng 1, người đầu tiên nói 5 chi tiết thì tới người thứ tư có khi rớt gần hết chỉ còn đúng 2 cái, rồi đẻ thêm 4 cái khác không biết ở đâu ra. Tới vòng 2 cũng vậy, chỉ đọc khẩu hình chứ không được nghe khẩu âm nên câu hát qua miệng người cuối cùng có khi trở thành một bài hát khác lạ hoắc lạ huơ không có trong… “từ điển” âm nhạc Việt Nam.

Trong nhiều số phát sóng của gameshow “Tam Sao Thất Bản” trong suốt 3 năm liền, hầu như hiếm có trường hợp nào hai đội chơi trải qua 2 vòng trên đạt mức độ chính xác 100%, ngoại trừ vòng 2 có một số câu hát quá quen thuộc thì tuy chỉ nghe lõm bõm nhưng người cuối cũng hát lại được chính xác.

Gameshow Tam Sao Thất Bản.

Các trải nghiệm trong chương trình cũng giống như một thí nghiệm xã hội thu nhỏ trên một nhóm đối tượng người trưởng thành là trí thức (có học vấn, có nghề nghiệp ổn định) về quy luật tam sao thất bản. Chỉ một thông tin đơn giản qua vài ba người đã có thể biến tấu thành một thông tin sai lệch hoặc khác hoàn toàn so với bản gốc, huống hồ qua miệng của hàng chục hàng trăm người thì dị bản sẽ còn đa dạng như thế nào?

Quy luật tam sao thất bản là gì?

Theo từ điển Nguyễn Quốc Hùng, “tam sao thất bản” là ba lần chép lại thì đã làm mất hết cả gốc, ý nói mỗi lần chép lại là mỗi lần sai đi. Có người lại cho rằng “tam sao thất bản” có nghĩa là ba bản sao thì có tới bảy bản chính, chẳng biết tin vào bản nào.

Nhà tâm lý học người Mỹ Gordon Allport năm 1943 từng làm một thí nghiệm: ông lựa mỗi học sinh trung học cho vô một phòng riêng và cho xem một hoạt cảnh nào đó, ví như một cuộc ẩu đả hay một tai nạn xe hơi. Mỗi lần chỉ cho một em vô thôi. Khi chiếu xong, bật đèn sáng lên, người ta mới cho em thứ hai vô. Lúc này ở trong phòng, em thứ nhất mới kể cho em thứ hai nghe những gì mới thấy trên màn ảnh, rồi đi ra, để em thứ hai ở lại. Người ta tắt đèn, và chiếu lại hoạt cảnh đó cho em thứ hai xem. Cứ thế lần lượt cho tới em học sinh thứ mười.

Khi em thứ mười vô phòng, nghe em thứ chín kể lại hoạt cảnh xong rồi (chứ chưa được xem phim), người ta kêu cả 8 em kia vô và bảo em thứ mười quay lưng lại màn ảnh, kể lại những điều mình nghe được. Trong cùng lúc, người ta chiếu lại hoạt cảnh cho cả 9 em kia cùng xem lại thì câu chuyện em thứ mười kể có rất ít liên quan tới sự thực trên màn ảnh, nhiều chỗ sai đến nỗi 9 em kia phá lên cười.

Có thể thấy, cùng một câu chuyện nhưng qua miệng của 5 người thì đã khác lần đầu khá xa, huống hồ qua 10 người thì đã trở thành một phiên bản hoàn toàn khác. Đây cũng chính là bản chất của quy luật tam sao thất bản – lời nói của một người kể lại càng đi xa gốc thì càng sai.

Những người nghe từ bản gốc khi đi kể lại, họ tưởng là mình kể đúng nhưng thực tế họ vô tình quên đi một vài chi tiết quan trọng, hoặc tưởng tượng thêm, ai nhiều chuyện thích drama thì lại thêm mắm dặm muối thêm tư ý của mình vào. Mỗi người sẽ có một phễu lọc (filter) khác nhau thì câu chuyện gốc khi đi qua từng phễu đó từ từ sẽ bị biến tấu thành nhiều dị bản. Thậm chí có trường hợp cùng một câu chuyện, cũng do một người kể, nhưng khi kể nhiều lần quá thì rốt cuộc họ chỉ nhớ những cái mình mới kể hơn là những gì đã trông thấy. 

Không cần nói đâu xa, văn học dân gian như truyền thuyết, cổ tích, ca dao, tục ngữ,… là sáng tác của tập thể nhân dân lao động và được truyền miệng từ đời này sang đời khác (tính thời gian) và từ vùng này sang vùng khác (tính không gian) nên sản sinh rất nhiều dị bản khác nhau. Đơn cử câu chuyện cổ tích Tấm Cám, cái kết của câu chuyện có tới 10 dị bản khác nhau mà sau đây là vài bản phổ biến nhất:

  • Kết 1 – bản nhẹ nhàng: Khi thấy Tấm trở về cung được nhà vua yêu thương như xưa, hai mẹ con Cám rời khỏi hoàng cung và bỏ đi mất tích. Từ đó, không ai nhìn thấy họ đâu nữa.
  • Kết 2 – bản nhẹ nhàngTấm sống hạnh phúc bên nhà vua, hai mẹ con Cám bị đuổi ra khỏi cung. Trên đường về quê bị sét đánh chết.
  • Kết 3 – bản kinh dịTấm dội nước sôi giết Cám, mang xác ngâm mắm gửi cho dì ghẻ ăn. Bà dì ghẻ ăn gần hết hũ mới phát hiện đầu lâu Cám, lăn đùng ra chết.
  • Kết 4 – bản kinh dịTấm chỉ cho Cám cách tắm trắng bằng cách đào cái hố sâu rồi xuống ngồi dưới đáy, gọi người đem nước sôi dội xuống hố. Cám chết còng queo ngay tức khắc. Dì ghẻ nghe tin uất lên chết theo con.

Hay như câu ca dao sau khi truyền qua các vùng miền khác nhau cũng tạo thành các dị bản:

1. Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn về đồng ăn cua
2. Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về kinh ăn về đồng ăn cua
3. Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về bưng ăn ốc về đồng ăn cua

Sông, kinh (rạch) hay bưng đều là đặc điểm thủy văn của từng địa phương. Như khu vực Đồng Tháp Mười có nhiều bưng biền, mà bưng biền có nhiều ốc nên người dân sửa lại thành “về bưng ăn ốc” cũng chẳng ai cấm cản gì, vì vốn gì văn học dân gian đâu ai đăng ký tác quyền.

Thực hành quy luật tam sao thất bản

Nói chuyện tôn giáo, suốt thời kỳ còn tại thế của Đức Phật Thích Ca, ngài chỉ dùng ngôn ngữ để giảng đạo và diễn đạt tư tưởng của riêng mình. Riêng hàng đệ tử chỉ nghe chứ không có ai ghi chép thành văn tự. Sau khi Phật nhập diệt, đại đệ tử của ông là Ma Ha Ca Diếp thay phần lãnh đạo giáo hội. Trong Tăng đoàn giáo hội bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn, tranh cãi về những lời Phật dạy. Để tránh sự sai biệt và bảo tồn các giáo pháp, luật lệ cho trọn vẹn, Ma Ha Ca Diếp đã đề nghị kết tập và phân loại toàn bộ lời dạy của Phật thành kinh điển để tránh chia rẽ và bất đồng trong giáo phái.

Các thời kì kết tập của Phật giáo có thể điểm qua như sau:

  • Cuộc kết tập lần thứ I: diễn ra vào mùa hạ sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Dưới sự chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp, phương pháp kết tập được kể lại bằng trí nhớ và cũng không có ghi lại thành văn bản.
  • Cuộc kết tập lần thứ II: diễn ra sau 100 năm (đầu thế kỷ thứ 5 TCN), kéo dài trong 8 tháng. Ở thời kỳ này tuy có nhiều tranh cãi giữa hai phe – phe bảo thủ của các tu sĩ trưởng lão và phe tự do của các tăng lữ trẻ tuổi nhưng vẫn chỉ dừng lại ở mức tranh biện bằng ngôn ngữ chứ không ghi chép lại thành văn bản.
  • Cuộc kết tập lần thứ III: diễn ra vào năm 225 TCN (giữa thế kỷ thứ 3 TCN), kéo dài trong 9 tháng. Đây là lần đầu tiên cuộc kết tập có ghi lại thành văn bản qua bộ Tam Tạng Kinh bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Phật giáo lúc đó được ghi chép bằng hai thứ chữ của Ấn Độ là Bắc Phạn (Sanscrit) và Nam Phạn (Pali). Dần dà Phật giáo bị suy vi ngay chính trên đất Ấn nhưng đạo Phật vẫn được bảo tồn nhờ sự truyền bá sang các nước chung quanh. Kinh điển Pali (Nam tông) được truyền về phía Nam nước Ấn. Kinh điển Sanscrit (Bắc Tông hay Đại thừa) thì được truyền qua phía Bắc ngoài nước Ấn như Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…
  • Cuộc kết tập lần thứ IV: lúc này các sử liệu đã không còn thống nhất với nhau về thời gian, địa điểm và có nhiều giả thuyết khác nhau. Thời kỳ này chỉ hiệu đính các bản kinh và biên dịch chúng.

Áp dụng quy luật tam sao thất bản vào case study trên, ta có thể phân tích:

– Xét về tính thời gian: Gần 500 năm sau khi Đức Thích Ca nhập diệt thì lời ngài nói mới được ghi lại thành kinh điển. Ngay chính trong Kinh Văn Thù còn chép lại một câu của Đức Thích Ca: “Ta trú ở thế gian để dạy chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ”. 500 năm chí ít qua 5-6 đời đệ tử với hàng trăm tăng lữ thuộc các phái khác nhau ghi chép lại lời giảng của Đức Phật, chủ yếu dựa trên sự hồi tưởng và được nghe kể lại thì những bản kinh sách Phật giáo hiện tại có còn đảm bảo được tính nguyên bản và nguyên văn lời Phật nói?

– Xét về tính không gian: Kinh điển Phật giáo từ Ấn độ được truyền bá qua nhiều nước trên thế giới, được dịch từ tiếng Pali và Sanscrit sang nhiều ngôn ngữ khác thì có tránh khỏi được sự hạn chế về mặt ngôn ngữ khi chuyển ngữ và tư ý của người dịch?

2 câu hỏi trên chỉ mang tính chất gợi mở để bạn đọc suy nghĩ sâu hơn về quy luật tam sao thất bản. Lời đáp thì tác giả không bàn luận ở đây vì liên quan sâu đến phạm trù tôn giáo và đức tin. Tương tự, bạn có thể áp dụng quy luật trên vào kinh điển của các tôn giáo khác. Hãy suy nghĩ về điều này.

Khắc chế quy luật tam sao thất bản

Nếu bạn thuộc tuýp người nhiều chuyện, thích hóng hớt thì rất dễ bị cuốn theo quy luật tam sao thất bản khi chính bạn là người đồng lõa góp phần giúp câu chuyện được lan truyền (viral) đi rộng hơn. Khi những lời đồn cộng hưởng lại ở đúng tần số có thể gây phương hại tới thanh danh hay tính mạng của một con người, một cuộc đời. Không ít người vì dính vào những lời đồn mà thân bại danh liệt hay tán gia bại sản. Có khi bạn còn tự mình hại mình khi lời bạn thêm mắm dặm muối quay ngược lại đâm chính bạn.

Muốn khắc chế quy luật tam sao thất bản, khi nghe một thông tin bất kỳ từ người khác nói lại hay đọc đâu đó trên mạng mà chưa rõ thực hư (nhưng quỡn rảnh muốn tìm hiểu), bạn hãy áp dụng quy trình sau:

  • B1. Tìm xem nguồn tin gốc ở đâu? Ai là người đầu tiên chứng kiến? Đừng vội vàng tin vào mấy lời như “Tao có người quen là bác sĩ kể lại…”
  • B2. Đánh giá độ tin cậy của nguồn tin chính cấp (gốc): Người phát biểu thông tin đó làm nghề gì, chức vụ như thế nào, lời nói có tính xác thực (nhân chứng, vật chứng) hay không? Hay thông tin đó được đăng tải từ cơ quan nào, có chính thống hay không?
  • B3. Đánh giá độ tin cậy của nguồn tin thứ cấp (người kể lại): Người này có liên quan như thế nào với nguồn tin chính cấp? Mối quan hệ đó có tính xác thực hay không? Có bằng chứng chứng minh không?

Ví dụ trong tình hình dịch bệnh Covid19 đang hoành hành, trên mạng lan truyền 2 tin đồn như sau:

  • Tin đồn 1: Ở Nghệ An có người phụ nữ sinh con trong đêm nay. Đứa con vừa sinh ra đã biết nói luôn và nói năm 2020 là năm đại dịch, mỗi người ăn một quả trứng luộc thì sẽ giải được kiếp nạn này.
  • Tin đồn 2: Tao có người quen là bác sĩ trong bệnh viện Chợ Rẫy kể lại, trong đó ghi nhận mấy ca bệnh nhân chết vì Corona rồi nhưng mà giấu đó.

Tin đồn 1 trong thực tế có rất nhiều dị bản, chỗ thì nói Nghệ An, chỗ thì nói Điện Biên, Hải Phòng hay bảo dưới quê em, người thì bảo ăn trứng trước 12 giờ đêm, người lại bảo ăn trứng trước 5 giờ sáng. Tin đồn 2 cũng vậy, người thì bảo bệnh viện Chợ Rẫy, người thì kể bệnh viện Nhiệt Đới, lúc thì kể có 2 người chết rồi, lúc thì kể 4 người hoặc chết nhiều lắm.

Tạm bỏ qua tin đồn 1 vì tin đồn này chỉ có tính lan truyền với người dân quê nhẹ dạ cả tin. Thử áp dụng quy luật tam sao thất bản vào tin đồn 2, nếu người nói thông tin trên là một người thân hay một người bạn của bạn thì sao?

Hãy thử đi qua các bước phân tích:

  • B1. Tin đồn đó người kể có nghe trực tiếp bác sĩ đó nói không hay nghe qua ai khác? Nghe qua hình thức nào? Có gì xác thực bác sĩ đó làm ở bệnh viện X không?
  • B2. Bác sĩ đó ở chuyên khoa nào? Có làm ở chuyên khoa truyền nhiễm không? Ví như xác thực được thông tin B1 mà bác sĩ đó làm ở khoa thai sản thì cũng trớt quớt.
  • B3. Có gì chứng minh mối quan hệ của cả hai?

Nếu người kể không trả lời được các câu hỏi trên, hoặc chỉ trả lời thiếu một bước thôi thì thông tin đó không có tính xác thực và cũng không đáng tin. Bạn có thể nghe thì nghe chứ không cần tin, và cũng không cần đi nhiều chuyện lại với người khác để lan truyền tin đồn đó làm gì nếu không muốn bị mời lên đồn công an làm việc.

Tục ngữ Trung Hoa có câu: “Chín người mười ý, thì ý thứ mười chính là ý mình vậy.” Câu này ý nói chín người lẽ ra chỉ có chín ý, nhưng khi bản thân mình nhiều chuyện thì sẽ đẻ ra thêm cái ý thứ mười. Ghi nhớ quy luật tam sao thất bản, bạn sẽ tránh được vạ miệng để cái miệng không hại cái thân và cũng bớt bớt nghiệp tụ vành môi.

Author

Một người xem việc học là một niềm vui thú và có đam mê khám phá các quy luật hữu hình và vô hình trong cuộc sống. "Nếu bạn muốn tỏa sáng ngày mai, bạn phải lấp lánh ngay từ hôm nay".

Bình luận

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.