
Cuối tuần rồi mình có đi xem phim Địa đạo của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, một bộ phim về đề tài chiến tranh nhưng lại thu hút sự quan tâm đông đảo của nhiều khán giả trẻ và nhận về rất nhiều lời khen. Bộ phim có một tình tiết làm mình cực kỳ ấn tượng, đó là sự việc nữ du kích Út Khờ trong lúc ngủ trên võng dưới địa đạo thì bị một nam du kích quấy rối và cưỡng bức. Điều làm mình ấn tượng không phải là tính chất của sự việc này, mà là việc phân cảnh này đã vượt qua vòng kiểm duyệt. Đó là tín hiệu đáng mừng để khán giả thấy được những góc khuất, chứ không chỉ là ánh sáng trong chiến tranh.
Trong môi trường tù túng, bí bách của địa đạo, mười mấy thanh thiếu niên du kích cả nam lẫn nữ đang tuổi ăn tuổi lớn phải sống chung đụng với nhau thì những ẩn ức tình dục phát sinh là điều hoàn toàn dễ hiểu. Đó cũng là lý do vì sao ngày xưa có tòa án binh để xử lý những sự vụ như vậy. Kịch bản bộ phim đã được viết từ năm 2016, qua ngần ấy năm trải qua những khâu chỉnh sửa và kiểm duyệt, với sự cố vấn của nhiều cá nhân, đơn vị và cơ quan, cho nên tình tiết đó là một điều hoàn toàn thực tế và phản ánh chân thật tâm sinh lý của con người, dù ở thời cuộc nào, chứ không phải chuyện hư cấu.

Mỗi khi có dịp trò chuyện với một số bạn là Phật tử hay tín đồ Công giáo, có một vấn đề rất lớn mình nhìn thấy ở các bạn đó là ẩn ức về tình dục. Phật giáo thì đặt ra giới cấm tà dâm (một trong ngũ giới cấm), khuyến khích tín đồ tuyệt dục thì mới có thể tu hành đắc đạo và quan niệm ái dục như một điều xấu xa tội lỗi. Thiên Chúa giáo thì quy định chuyện tình dục chỉ hợp lẽ khi cả hai đương sự đã chính thức kết hôn, còn chuyện quan hệ tình dục trước hôn nhân, thủ dâm, quan hệ đồng giới đều bị xem là sai trái. Các tu sĩ ở hai tôn giáo này cũng phải tuyệt dục, tịnh thân suốt đời.
Mình từng gặp những bạn có tư tưởng rằng chuyện ái dục là phạm giới, là tạo nghiệp tới mức mà bạn phải đọc kinh, niệm Phật và quỳ lạy sám hối mỗi ngày để xin Trời Phật tha thứ cho “lỗi lầm” của bạn. Thậm chí có ca còn nặng hơn tới mức có những triệu chứng như bệnh nan y, nhưng đi bệnh viện khám thì không ra bệnh gì, đơn giản chỉ vì đó là bệnh tâm lý: Bạn bị ám ảnh rằng chuyện thủ dâm, quan hệ tình dục là phạm giới nên bạn đang bị trừng phạt rất nặng vì tội lỗi của mình. Bệnh lý của bạn nặng tới mức gần như hoang tưởng rằng bạn đang sắp chết.

Ở cấp độ nhẹ hơn, đó là những bạn mỗi khi nghe ai đó đề cập tới chuyện ái dục là giãy lên đong đỏng như thể đó là chuyện gì ghê tởm, xấu xa và không được phép nhắc đến, trong khi các bạn đều là người trưởng thành và môn Sinh học từ thời trung học đã dạy cho chúng ta về các cơ quan sinh dục của nam nữ cũng như vấn đề tính dục ở mỗi giới. Điều làm mình ngạc nhiên nằm ở chỗ các bạn đều là những người trưởng thành có hiểu biết, có trình độ học vấn, nhưng hễ là tín đồ tôn giáo mà nghe nhắc đến chuyện này thì đều phản ứng như thể nó là chuyện cấm kỵ.
Vấn đề ái dục vốn dĩ là một nhu cầu sinh lý cơ bản được lập trình trong bộ gene của con người. Nhân loại trải qua mấy triệu năm lịch sử tiến hóa đều dựa trên hai quy luật cơ bản là sinh tồn và sinh sản. Những gì không phục vụ cho mục đích tiến hóa của các giống loài đều sẽ bị đào thải theo chọn lọc tự nhiên, và cho đến bây giờ nhu cầu tình dục vẫn còn tồn tại – tức là nó vẫn rất thuận tự nhiên và cần thiết cho sự phát triển của nhân loại.
Hãy nhớ một điều rằng: Lịch sử tôn giáo (ở cả hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Thiên Chúa giáo) chỉ mới trải qua hơn 2000 năm hình thành và phát triển, trong khi lịch sử loài người (homo sapiens) đã trải qua hơn 200.000 năm rồi. Lịch sử nào có bề dày hơn? Phép toán này đã quá rõ ràng tới mức không cần phải so sánh.

Nhu cầu sinh lý cũng là một nhu cầu cơ bản giống như ăn uống hay ngủ nghỉ, với mục đích giữ gìn và phát triển nòi giống của nhân loại. Nhờ có quan hệ vợ chồng mới có sự ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa – người sau này trở thành Đức Phật Thích Ca, cũng như rất nhiều bậc thánh hiền và vĩ nhân khác. Quan hệ nam nữ, vợ chồng vốn là điều thuận theo quy luật tự nhiên nhưng lại bị các tu sĩ xem là tội lỗi, trong khi việc tuyệt dục là phản tự nhiên mà lại xem đó là thanh cao.
Bạn hãy thử tưởng tượng: Nếu hơn 8 tỷ người trên toàn thế giới này đều chủ trương tuyệt dục theo đúng những gì các tôn giáo dạy, thì tương lai của nhân loại sẽ đi về đâu?
Đó sẽ là đợt tuyệt chủng thứ sáu trong lịch sử của địa cầu, và may mắn là phần lớn dân số thế giới đều không tuân theo chủ trương này. Chỉ có một thiểu số người tu cổ xúy chủ trương này và phải kiềm chế nhu cầu sinh lý của bản thân bằng việc ăn uống và ý chí. Các nhà sư thường ăn đậu hũ, rau răm và kiêng ngũ vị tân – các loại gia vị có mùi cay nồng như hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu để tránh kích thích ham muốn tình dục.
Về mặt sinh học, quá trình ăn uống như vậy sẽ kích thích sản sinh hormone estrogen (thường có ở nữ giới) và giảm sản xuất hormone testosterone (thường có ở nam giới). Đó cũng là lý do vì sao bạn thấy một số tu sĩ nam sẽ có phong thái nhẹ nhàng, điềm đạm hơn nam giới bình thường.

Mặc dù nỗ lực trong việc ăn uống và tiết chế bản thân như vậy, nhưng cái bản năng hình thành qua 200.000 năm của loài người (đó là còn chưa kể đến hàng triệu năm của người tiền sử trước khi tiến hóa thành loài homo sapiens) đôi lúc vẫn cầm cương chiến thắng ý chí. Kết cục là có rất đông tu sĩ ở các tôn giáo lớn đã xâm phạm tình dục tín đồ, quan hệ nam nữ hay cả quan hệ đồng giới, lạm dụng tình dục trẻ em, có con rơi con rớt, v.v. Nhiều sự vụ bị công khai trên báo đài và làm chấn động khắp toàn cầu. Đây là những việc mà bạn chỉ cần search vài từ khóa là sẽ ra hàng chục bài báo trong mấy chục năm qua.
Suy cho cùng, tu tập là việc hướng thiện và hướng thượng để có một đời sống nhẹ nhàng và bình an hơn. Nếu bước vào đường tu mà đeo mang tâm lý nơm nớp lo sợ y như người phạm tội nghiêm trọng thì có đọc kinh, sám hối bao lâu cũng không thể bình an tu học được. Giới luật là cái nhắc nhở chúng ta đừng đi quá đà, như cấm tà dâm là không lừa gạt tình cảm của người khác để thỏa mãn dục vọng cá nhân, ngoại tình, cưỡng dâm, ấu dâm, v.v. chứ không phải là tuyệt dục để rồi tâm sinh lý trở nên bất bình thường.

